Hotline: 0934.682.133
Theo quy định tại Điều 275 BLDS 2015, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”. Trong trường hợp này, trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ gồm các dấu hiệu sau:
Thứ nhấtCó thiệt hại xảy ra.
– Thiệt hại về tài sản là những tổn thất vật chất thực tế được tính thành tiền mà người có hành vi trái pháp luật đã gây ra cho người khác; thiệt hại về thể chất là sự giảm sút về sức khoẻ, mất mát về tính mạng, hình thể của người bị thiệt hại; thiệt hại về tinh thần là sự ảnh hưởng xẩu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của người bị thiệt hại. Để có cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các thiệt hại do xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm cũng phải được xác định thành một khoản tiền cụ thể. Vì vậy, thiệt hại là những tổn thất xảy ra được tính thành tiền bao gồm những mất mát, hư hỏng, huỷ hoại về tài sản, nguồn thu nhập bị mất, chi phí nhàm ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tinh thần.
Thứ haiHành vi gây thiệt hại trái pháp luật.
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định (yêu cầu) của pháp luật. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật là những hành vi xâm hại tới tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và đa phần được thể hiện dưới dạng hành động. Tuy nhiên, những hành vi gây thiệt hại do xâm phạm các yếu tố trên nhưng được thực hiện phù họp với quy định của pháp luật sẽ không bị coi là hành vi trái pháp luật và vì vậy, người thực hiện hành vi đó không phải bồi thường thiệt hại. Chẳng hạn, hành vi gây thiệt hại trong giới hạn của phòng vệ chính đáng hoặc gây thiệt hại đúng với yêu cầu của tình thế cấp thiết.
Thứ baCó lỗi của người gây thiệt hại.
– Lỗi là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định những yêu cầu của xã hội đã được thể hiện thông qua các quy định của pháp luật. Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho xử sự đó phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi. Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện. Bao gồm hai hình thức lỗi sau đây:
Thứ tưPhải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảv ra.
Quá trình phát sinh, phát triển và chẩm dứt giữa các sự vật và hiện tượng bao giờ cũng có mối liên hệ nội tại, trong đó, sự vật, hiện tượng này là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng kia. Có thể một sự vật, hiện tượng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhiều sự vật, hiện tượng khác, có thể nhiều sự vật, hiện tượng cùng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng khác. Vì vậy, để xác định chính xác người phải bồi thường thiệt hại cần phải dựa vào cặp phạm trù: Nguyên nhân và kết quả và tìm ra mối liên hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, trong đó, thiệt hại xảy ra phải là kết quả tẩt yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Mặt khác, tại Điều 586 Luật dân sự năm 2015 quy định về năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại cá nhân như sau:
“1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”
Trên đây là thông tin cơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên mỗi trường hợp sẽ có sự khác biệt riêng, do vậy để nhận được sự tư vấn chặt chẽ phù hợp cho từng trường hợp quý khách xin liên hệ với luật Toàn Long theo hotline: 1900.6208  hoặc đến trực tiếp văn phòng tại số 61 ngõ 12 phố Đào Tân, Ba Đình, Hà Nội. Chúng tôi, những chuyên viên tư vấn, luật sư giàu kinh nghiệm sẽ trợ giúp bạn tận tình và chu đáo nhất.
 

No Comments

Ý kiến phản hồi

hinhanh

Tư vấn trực tuyến

team8
Mr Long - Tư vấn đầu tư

mr.long - 0934.682.133

luattoanlong@gmail.com
team8
Ms Châm - Dân sự - hình sự

- 0936.324.323

luattoanlong@gmail.com
team8
Mr. Phùng - Công chứng

- 0936.636.623

luattoanlong@gmail.com
team8
Ms. Hà Linh - Doanh nghiệp

doanhnghiep - 0902.264.363

luattoanlong@gmail.com
team8
Mr. Quý - Giấy phép

- 0906 284 263

luattoanlong@gmail.com
LUẬT TOÀN LONG