Quy định của pháp luật về mang thai hộ

Quyền làm cha, làm mẹ là quyền thiêng liêng và là ước nguyện của nhiều người khi xây dựng gia đình, do vậy để đảm bảo quyền được làm cha, làm mẹ của nhưng cặp vợ chồng bị hạn chế về quá trình mang thai tự nhiên thì pháp luật Việt Nam công nhận việc mang thai hộ là hợp lí.

Mang thai hộ được hiểu là dùng biện pháp kỹ thuật trong y học, mang tính tự nguyện của người phụ nữ không vì mục đích thương mại giúp cho những cặp vợ chồng không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản. Việc mang thai hộ là dùng biện pháp kĩ thuật lấy trứng của vợ và tinh trùng của chồng để thụ tinh trong ống nghiệm sau đó cấy vào tử cung của phụ nữ khác để người này mang thai hộ. Tuy nhiên pháp luật cũng nghiêm cấm các hành vi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính, mà theo đó việc mang thai hộ là nhằm được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

2(33)

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy đinh về điêu kiện mang hai hộ, đối với người nhận mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng bên vợ hoặc bên chồng, người nhận mang thai hộ phải đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần. Đây là quy định mà Nhà nước nhằm loại bỏ tình trạng một người có thể mang thai hộ nhiều lân và vì mục đích thương mại mà làm giảm đi tính nhân đạo của việc mang thai hộ.

Đối với vấn đề xác định cha, mẹ, con trong mang thai hộ
Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định áp dụng theo điều 94 Luật hôn nhân và gia đình 2014: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”. Việc xảy ra tranh chấp liên quan đến việc mang thai hộ vì mục đích nhân tạo sẽ được cơ quan có thẩm quyền là Tòa án sẽ giải quyết.
Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Bộ luật dân sự.

Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân tạo
Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:
– Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
– Vợ chồng đang không có con chung;
– Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:
– Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;
– Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;
– Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;
– Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;
– Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhằm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định chi tiết Thông tư 57/2015/TT-BYT ngày 30/12/2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. và Nghị định 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 quy định về sinh con về kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản có công chứng. Việc thỏa thuận giữa các bên phải đảm bảo về mặt nội dung và không trái pháp luật theo quy định của Điều 96 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
“a) Thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên quan quy định tại Điều 95 của Luật này;
b) Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97 và Điều 98 của Luật này;
c) Việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan;
d) Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.”
Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ được đảm bảo theo thỏa thuận giữa các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật tại Điều 97 và 98 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cũng như trách nhiệm giữa các bên.
Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Luật Toàn Long (1900.6208), để được hướng dẫn chi tiết hoặc liên hệ qua trang liên hệ của chúng tôi.

Bình luận trên Facebook